Thứ Hai, 10 tháng 9, 2018
Hỗ trợ 6 địa phương phòng chống dịch bệnh động vật
Lo dịch tả heo châu Phi
Sự kiện kinh tế tuần: Xăng, dầu đồng loạt tăng giá
Giá etanol E100 đưa vào tính giá cơ sở mặt hàng xăng E5 RON92 theo quyết định của Bộ Tài chính về điều hành kinh doanh xăng dầu là 14.874,60 đồng/lít (chưa có thuế GTGT).
Theo Bộ Công Thương, giá thành phẩm xăng dầu thế giới thời gian gần đây tăng khá mạnh. Bình quân giá thành phẩm xăng dầu thế giới trong 15 ngày qua tăng 3,220 USD/thùng, lên mức 85,005 USD/thùng xăng RON92. Xăng RON95 tăng 2,926 USD/thùng, lên 87,258 USD/thùng trong khi dầu diesel 0.05S lên mức 91,328 USD/thùng, tăng 4,843 USD/thùng.
Cùng với giá xăng dầu thế giới tăng, tỷ giá tăng cũng tác động đến giá bán lẻ xăng dầu của DN. Giá USD/VND bán ra của Ngân hàng Thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam bình quân trong 15 ngày qua ở mức 1 USD bằng 23.337VND (tăng 3 VND/1USD so với kỳ trước).
Trung Quốc là thị trường nhập khẩu lớn nhất của Việt Nam với 41,4 tỷ USD, tăng 12,8%. Hàn Quốc giữ vị trí thứ 2, gần 31 tỷ USD.
Với dữ liệu trên, Mỹ và Trung Quốc vẫn là 2 thị trường xuất, nhập khẩu lớn của Việt Nam. Trong đó kim ngạch xuất nhập khẩu Việt Nam - Trung Quốc gần gấp đôi sang Mỹ, xấp xỉ 65 tỷ USD. Tính chung 8 tháng Việt Nam vẫn xuất siêu 2,8 tỷ USD, trong đó trong nước nhập siêu 17 tỷ, FDI xuất siêu 19,5 tỷ USD.
Với quyết định miễn nhiệm chức vụ Kế toán trưởng với ông Dũng, đồng nghĩa ông này sẽ rời ban điều hành Sabeco. Tuy nhiên, ông Dũng vẫn nằm trong Hội đồng quản trị của công ty này.
Sau động thái thôi chức vụ Kế toán trưởng của ông Dũng, Sabeco là doanh nghiệp lớn thứ 2 (sau Vinamilk) không có người đại diện vốn Nhà nước trong ban điều hành.
Trước đó, Sabeco cũng đã miễn nhiệm chức vụ tổng giám đốc đối với ông Nguyễn Thành Nam từ ngày 31/7 và bổ nhiệm ông Neo Gim Siong Bennet (quốc tịch Singapore) thay thế vị trí này.
Theo Nghị quyết đại hội đồng cổ đông thường niên năm 2018 của Sabeco tổ chức cuối tháng 7, các cổ đông đã thông qua danh sách 7 thành viên Hội đồng quản trị nhiệm kỳ mới. Ngoài 4 thành viên là người của tỷ phú Thái, trong số 3 ứng viên còn lại thì có hai người là đại diện hơn 36% vốn Nhà nước tại Sabeco là ông Nguyễn Tiến Dũng và ông Lương Thanh Hải. Thành viên độc lập duy nhất có ghế trong Hội đồng quản trị Sabeco là ông Nguyễn Tiến Vỵ, nguyên Vụ trưởng Vụ Kế hoạch (Bộ Công Thương).
Năm 2018, Sabeco đặt kế hoạch lợi nhuận sau thuế đạt hơn 4.000 tỷ đồng, giảm 19% so với năm ngoái, cho dù ngành bia Việt Nam được dự báo tăng trưởng 5% trong năm nay. Công ty dự kiến sẽ chia cổ tức 35%. Tiền lương cho Hội đồng quản trị và ban kiểm soát năm nay là 3,7 tỷ đồng, giảm 25% so với 2017.
Cuối năm 2017, Bộ Công Thương đã bán 53,59% vốn Sabeco cho Công ty TNHH Vietnam Beverage (công ty của tỷ phú Thái Lan Charoen Sirivadhanabhakdi) với giá trị lên tới 4,8 tỷ USD.
Châu Á là châu lục có tỷ lệ người siêu giàu tăng nhanh nhất thế giới cả về số lượng lẫn tài sản. Có tới 6/10 nền kinh tế châu Á lọt Top 10 nền kinh tế có tỷ lệ giới siêu giàu tăng nhanh nhất thế giới.
Theo báo cáo, năm 2017, dân số siêu giàu thế giới tính với nhóm những người có tài sản trên 30 triệu USD lên tới khoảng 255.810 người, tăng 12,9% so với năm 2016. Tổng tài sản kết hợp của giới siêu giàu cũng tăng 16,3%, đạt kỷ lục 31,5 nghìn tỷ USD.
Mỹ vẫn là quốc gia có nhiều người siêu giàu nhất (79.595 người với tổng tài sản 9.845 tỷ USD). Tiếp đến là Nhật Bản, Trung Quốc, Đức, Canada.
Châu Á có 3 đại diện trong danh sách 10 nước có nhiều người giàu nhất thế giới là Nhật, Trung Quốc và Hong Kong (Trung Quốc). Số người siêu giàu châu Á cũng trẻ hơn so với thế giới với gần một phần tư có độ tuổi dưới 50.
Trong một thập kỷ qua, tỷ lệ người giàu trên tổng số toàn cầu của châu Á đã tăng từ 18% lên 27%, xếp sau khu vực giàu thứ 2 thế giới là châu Âu (chiếm 28%).
Xếp theo TP, Hongkong cũng đã vượt New York để trở thành nơi có nhiều người siêu giàu nhất. Xếp sau đó là Tokyo (Nhật), Los Angeles (Mỹ) và Paris (Pháp).
Theo World Ultra Wealth, trong những năm tới, khoảng cách này có thể còn thu hẹp nữa với dự báo tốc độ tăng trưởng giới siêu giàu của châu Á - Thái Bình Dương có thể đạt con số 8,3% trong 5 năm tới, trong khi tổng tài sản tăng nhanh hơn 8,6%.
Cải thiện kinh tế và thị trường chứng khoán tăng vọt vào năm 2017 góp phần giúp giới siêu giàu tại châu Á tăng vọt. Dù vậy, báo cáo cũng chỉ ra rằng, sự tăng trưởng mạnh mẽ của châu Á vẫn được dẫn dắt bởi một làn sóng các doanh nhân siêu giàu, những người đang tận dụng được cơ hội phát triển trong các lĩnh vực tài chính và công nghệ cao.
Thứ Sáu, 7 tháng 9, 2018
Thị trường sôi động lên v���i những quyết định tăng lãi su���t huy động VND
![]() |
Từ trung tuần tháng 8/2018, nhiều ngân hàng thương mại đã có mức lãi suất cao nhất 8,4%/năm, thậm chí 8,7%/năm. Tất nhiên là chỉ áp với các kỳ hạn khá dài - Ảnh: Quang Phúc. |
Nhìn lại, trải qua hai năm, những mức cao của lãi suất VND đang dần trở nên bình thường.
Tháng 3/2016, sau kỳ nghỉ Tết Nguyên đán, một số ngân hàng thương mại có đợt tăng lãi suất đang chú ý. Khi đó, mức cao nhất của lãi suất VND cao nhất ghi nhận ở 8,38%/năm, kỳ hạn 13 tháng tại Ngân hàng Việt Á.
8,38% khi đó trở thành hiện tượng, vì nhiều nhà băng khác áp phổ biến dưới 7,2-7,5%/năm các kỳ hạn dài, một vài trường hợp có 7,9-8,1%/năm.
Hiện tượng, vì đó là trường hợp đầu tiên áp cao vượt trội. Nhưng, tính cá biệt của nó có ở điều kiện chỉ áp với những khoản tiền gửi từ 100 tỷ đồng trở lên.
Đến nay, mất hơn hai năm để những mức lãi suất cao như trên trở nên bình thường. Đó cũng là khoảng thời gian lạm phát êm đềm dưới mục tiêu kiểm soát, cũng là hơn hai năm Ngân hàng Nhà nước liên tục mua ròng lượng lớn ngoại tệ, đồng nghĩa với lượng lớn tiền đồng đưa ra.
Đến nay, từ trung tuần tháng 8/2018, nhiều ngân hàng thương mại đã có mức lãi suất cao nhất 8,4%/năm, thậm chí 8,7%/năm. Tất nhiên là chỉ áp với các kỳ hạn khá dài.
Sau hai năm, đến nay, bối cảnh thị trường cũng đã có nhiều thay đổi.
Lạm phát bắt đầu thể hiện áp lực lớn hơn đối với mục tiêu kiểm soát. Ngân hàng Nhà nước không còn mua vào ngoại tệ lớn như trước. Tỷ giá USD/VND thể hiện những đợt tăng khá mạnh. Thanh khoản hệ thống dù không căng thẳng, thậm chí về tổng thể vấn dư thừa, nhưng điều hành chính sách đã phải cân đối lại trong điều tiết.
Bối cảnh đó liên thông sâu sắc với thế giới bên ngoài. Cuộc chiến thương mại giữa các quốc gia lớn nổ ra và có xu hướng căng thẳng thêm. Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) có các đợt tăng lãi suất đồng USD với tần suất dày hơn. Đồng Nhân dân tệ giảm giá mạnh kéo dài. USD-Index tăng khá mạnh và dùy trì ở mức cao. Dòng vốn đầu tư nước ngoài có xu hướng đảo chiều tại các thị trường mới nổi. Nhiều quốc gia phá giá mạnh đồng nội tệ, cũng như nhiều ngân hàng trung ương đã tăng lãi suất…
Không như bình thông đáy, nhưng Việt Nam cũng không quá độc lập. Lạm phát, tỷ giá, lãi suất trong nước đón nhận nhất định, phản ứng nhất định với những tác động lớn bên ngoài. Nhà điều hành cũng phải linh hoạt hơn để cân đối các mục tiêu.
Con đường không còn khá bằng phẳng như 2016 và 2017 với lãi suất và tỷ giá USD/VND nữa. Bối cảnh bên ngoại và nội tại xuất hiện những mấp mô, buộc "tay lái" chính sách tiền tệ phải có lúc rà phanh, lúc mớm ga. Tỷ giá và lãi suất bật lên trong ngắn hạn, tốc độ cỗ xe giật hơn, đương nhiên tiêu hao nhiên liệu nhiều hơn - chi phí sản xuất kinh doanh và cả bảo hiểm rủi ro của doanh nghiệp phải trả có thể nhiều hơn.
Nhưng cơ bản, ở thời điểm này, lạm phát, tỷ giá và lãi suất vẫn trong tầm kiểm soát của Ngân hàng Nhà nước. Phía trước, định hướng điều hành hẳn phải trù tính làm sao tránh những cú phanh gấp, giật ga mà khiến cỗ xe nền kinh tế tiêu hao nhiêu liệu nhiều hơn.
Đó là một sự ổn định tương đối, trước yêu cầu cân đối đa mục tiêu, mà có những mục tiêu gần như mâu thuẫn nhau.
Như trên, đến nay thị trường đã bình thường hóa những mức lãi suất cao. Nhưng như vậy không hẳn hệ thống khó khăn thanh khoản.
Tính đến ngày 5/9/2018, hệ thống vẫn còn dư thừa tới gần 75.000 tỷ đồng đang tạm trú ở tín phiếu Ngân hàng Nhà nước phát hành hút tiền về. Việc hút bớt này nhằm hạn chế dư tiền gây áp lực lạm phát, nhằm cân đối lãi suất VND-USD trên liên ngân hàng để hỗ trợ ổn định tỷ giá.
Từ đầu tháng 6/2018, nhà điều hành đã tăng cường hút bớt tiền về khối lượng lớn, từng bước mở rộng các kỳ hạn tín phiếu dài hơn để hút vốn bền vững hơn. Những chuyển động này khá chủ động trước khi FED có quyết định tăng lãi suất.
Và cuối tháng 7 đầu tháng 8/2018, Ngân hàng Nhà nước cũng chủ động gián tiếp tác động để lãi suất VND trên liên ngân hàng lên mức chấp nhận được, tạo chênh lệch đáng kể có lợi cho ổn định tỷ giá. Lãi suất VND trên thị trường này đã ổn định quanh 4,5%/năm khoảng một tháng qua, những phiên gần đây có diễn biến giảm nhẹ.
Dù không thông đáy, nhưng lãi suất liên ngân hàng ở mức cao như trên cũng tác động nhất định đến lãi suất huy động trên thị trường dân cư và doanh nghiệp. Một số nhà băng tăng lãi suất VND chủ yếu ở kỳ hạn dài, nhằm cân đối lại cơ cấu vốn, cũng như chuẩn bị đáp ứng cho các giới hạn an toàn mới từ đầu 2019.
Mặt khác, nếu trù tính lạm phát tăng lên trong dài hạn, việc nâng lãi suất các kỳ hạn dài lúc này để chủ động nguồn và chi phí trước cũng là một lựa chọn trong kinh doanh.
Còn ở khối ngân hàng thương mại nhà nước lớn, lãi suất huy động VND gần đây tăng chủ yếu chỉ tập trung ở kỳ hạn ngắn, mặt bằng lãi suất của họ chỉ gợn lăn tăn những bước rất nhỏ 0,1-0,2%/năm.
Dù chỉ gợn lăn tăn, nhưng khối này phải tính toán rất kỳ về chi phí, nhất là trong thực tế đầu ra tín dụng đang bị "siết lại". Họ tính kỹ, ví như phải sau một thời gian, có thành viên đã phải nâng lãi suất không kỳ hạn cho tiền gửi thanh khoán của khách hàng từ 0,1%/năm lên 0,2%/năm (có lẽ để tránh phản cảm sau khi tăng mạnh phí dịch vụ rút tiền, chuyển tiền).
Phân hủy chất thải từ chăn nuôi heo đang thay đổi Việt Nam

Xăng, dầu đồng loạt tăng giá từ chiều 6/9
Thứ Năm, 6 tháng 9, 2018
Lãi suất ngân hàng ACB cao nh��t trong đầu tháng 9
Lãi suất ngân hàng ACB trong đầu tháng 9 tiếp tục giữ nguyên so với mức đã công bố trong tháng trước.
Lãi suất ngân hàng không kỳ hạn thông thường ở mức 0,3%/năm. Đối với một số loại tài khoản đặc biệt (tài khoản thương gia, tài khoản lương,...) lãi suất ở mức cao hơn và tăng dần khi số dư tăng lên.
Đối với các kỳ hạn ngắn từ 1 tuần đến 3 tuần, lãi suất ngân hàng quy định là 1%/năm.
Từ kỳ hạn 1 tháng trở lên, lãi suất thay đổi theo cả kỳ hạn và số tiền gửi với các mốc: 200 triệu đồng, 1 tỷ đồng, 5 tỷ đồng, 10 tỷ đồng. Tương ứng với từng số tiền gửi cao hơn, lãi suất ở cùng kỳ hạn sẽ cao hơn khoảng 0,1%, số tiền từ 10 tỷ đồng trở lên lãi suất sẽ chênh khoảng 0,3%.
Đối với số tiền gửi từ 200 triệu đồng đến dưới 1 tỷ đồng, lãi suất tiết kiệm kỳ hạn 1 tháng là 4,9%/năm; 2 tháng là 5,1%/năm; 3 - 5 tháng là 5,2%/năm; 6 tháng và 9 tháng là 5,8%/năm; 12 tháng và 24 tháng là 6,6%/năm; 15 tháng và 36 tháng là 6,8%/năm; 18 tháng là 7%/năm.
Kỳ hạn 18 tháng là kỳ hạn có lãi suất cao nhất tại ACB hiện nay.
Mức lãi suất cao nhất đối với loại tiền gửi truyền thống lãi cuối kỳ VNĐ là 7,2%/năm được áp dụng với kỳ hạn 18 tháng và số tiền gửi từ trên 10 tỷ đồng.
Biểu lãi suất ngân hàng ACB tại 5/9/2018
![]() |
| Nguồn: ACB |




